Tìm kiếm

Hội thảo Phật giáo tại Đại học Mahamakut, Thái Lan

Nhằm tìm hiểu và đánh giá vai trò cuả các Đại học Phật giáo trong việc giáo dục và hoằng pháp hòa bình ở lưu vực sông Mekong, Đại học Mahamakut - Thái Lan tổ chức hội thảo tại tỉnh Khon Kaen, TL với 5 đoàn đại biểu tham dự là Thái Lan, Lào, Camphuchia, Myanmar và Việt Nam từ ngày 02 đến 05/5/2013.

Thông điệp Phật đản của Tổng Giám đốc UNESCO

Trước thềm Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào ngày 21 và 22-5, Tổng Giám đốc UNESCO - bà Irina Bokova (ảnh), đã gởi bức thông điệp đến Đại lễ.

Xem tất cả »

Tiểu sử Đại lão HT. Thích Từ Nhơn (1926 - 2013)

Thế rồi, theo duyên tan họp, Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 07 giờ ngày 25 tháng 4 năm 2013, nhằm ngày 16 tháng 3 năm Quý Tỵ tại Việt Nam Quốc Tự, đường 3 tháng 2, phường 12, quận 10, Tp. Hồ Chí Minh. Trụ thể 88 năm, Hạ lạp 68 năm.

Tiểu sử trưởng lão Hòa Thượng Thích Minh Châu (1918 - 2012)

Đúng vào mùa Vu Lan PL. 2556, vào lúc 9h sáng ngày 01 tháng 9 năm 2012 (tức 16/7 âm lịch), Ngài đã nhẹ nhàng xả báo thân tại Phương trượng Thiền Viện Vạn Hạnh. Trụ thế 95 tuổi năm và 64 hạ lạp. Cuộc đời của Hòa thượng là một tấm gương sáng về đức trí và giáo dục cho Tăng Ni nhiều thế hệ. Ngài còn là anh cả Sáng lập viên của Tổ chức giáo dục Thanh thiếu niên Gia đình Phật tử Việt Nam.

Xem tất cả »

Liên kết websiteThống kê truy cập
  • Đang Online: 5
  • Lượt truy cập: 806853
Các bài nghiên cứu

Kinh Tương Ưng Thôn Trưởng

Đăng ngày: 14/06/2012

Sống và làm việc trong từng lĩnh vực khác nhau, con người đương nhiên đều có những kiến giải riêng theo quan điểm của mình về vấn đề giáo dục.

Nhà sinh lí học cho rằng, giáo dục có thể giúp cho con người thích ứng với hoàn cảnh cuộc sống của họ; nhà tâm lí học thì cho rằng, giáo dục là công cụ để thay đổi những hành vi của con người; nhà xã hội học lại nói, giáo dục là một loại công năng của tổ chức xã hội; các nhà triết học thì nhận định rằng, giáo dục là quá trình phát triển tiềm năng của nhân loại; dưới con mắt của các nhà chính trị thì giáo dục là thủ đoạn để đạt đến lý tưởng chính trị, v.v.. Phật giáo giáo dục con người đạt đến trí tuệ giải thoát, hiểu rõ về con người năm uẩn, về sự sống theo lí duyên sinh, hướng đến chấm dứt những bức bách khổ đau trong tận tâm thức của con người, làm thăng tiến giá trị của sự sống, v.v… Vì vậy, từ xưa đến nay, con người luôn có những lí giải khác nhau về hàm nghĩa giáo dục. Nhân dịp đọc bài tham luận về “Nhận định về một khiếm khuyết trong GDPG Việt Nam” chúng tôi chợt nhớ đến bài kinh Đức Phật dạy cho một nhà vũ kịch. Hãy lắng nghe những lời của Bậc Giác Ngộ chỉ dạy !

II. Puta (S.iv,306)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

4) Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

5) Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này". Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.

6) Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.

7) Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: "Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.

8) Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.

Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này".

Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: "Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười".

9) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!

10) Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở thành một vị A-la-hán nữa.

Trích Tương Ưng Bộ Kinh-Tập IV

HT. Thích Minh Châu

CÁC BẢN TIN LIÊN QUAN KHÁC

Thư viện Tài liệu
  • Quan điểm của Phật giáo trước các vấn đề hiện đại“Quan điểm của Phật giáo trước các vấn đề hiện đại” là một tuyển tập các bài viết của các giáo sư Phật học và các nhà khoa học nổi tiếng thế giới về các vấn đề thời đại, dưới cái nhìn Phật giáo.
  • Thế Nào Gọi Là Nguyên Thủy Phật GiáoThời kỳ Phật học Nguyên thủy, là chỉ cho những học thuyết được truyền thừa tính từ thời gian đức Phật thành đạo và được truyền thừa 3,4 thế hệ cho đến sau khi Ngài nhập diệt, là thời gian nội bộ Phật giáo vẫn chưa phân hóa, tư tưởng còn thống nhất. Sự phân kỳ của Phật học sử, chúng ta tính từ Phật học xuất hiện vào những thế kỷ trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ XI sau công nguyên, tổng cộng có chừng 1500 năm, chia làm 6 giai đoạn: 1. Phật học Nguyên thủy; 2.Phật học Bộ phái; 3. Phật học Đại thừa của thời kỳ đầu; 4. Phật học Tiểu thừa; 5. Phật học Đại thừa của thời kỳ giữa; 6. Phật học Đại thừa của thời kỳ cuối.
  • Hai sự kiện người "hóa hổ" xảy ra trong triều LýTrong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên viết về vua Lý Nhân Tông như sau: “Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, nước được thái bình, là vua giỏi của triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều luỵ cho đức tốt”. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông “Xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân. Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám”
  • Tinh Yếu Kinh Quán Niệm Hơi ThởNgày tôi khám phá ra kinh Quán Niệm Hơi Thở tôi rất hạnh phúc, tôi xem như mình đã tìm ra một kho báu, tôi có cảm tưởng tôi là người hạnh phúc nhất trên đời. Vì vậy tôi đã từng giảng dạy, từng trình bày và từng hướng dẫn cho rất nhiều người tu tập. Trong khi hướng dẫn người khác tu tập tôi luôn luôn có hạnh phúc và những người được nghe và tu tập theo cũng có hạnh phúc.
  • Pháp Thuận Thiền SưThiền sư là người ra đi không để lại dấu vết, chính điều đó nói lên tinh thần thiền tông ( bất lập văn tự ), khiêm hạ, ẩn danh, vô ngã. Tuy nhiên có điều bất lợi so với cách luôn ghi chép từng biến cố nhỏ lớn, từng sự kiện nhỏ to, trong đời mình cũng như trong xã hội mình đang sống như người phương tây, nên phật giáo Việt Nam chúng ta tư liệu thật nghèo thiếu, một phần nữa là do ngoại nhân đưa về Kim Lăng đốt để huỷ diệt văn hoá, chính điều đó khiến tiểu sử các vị thiền sư lại càng sơ sài, ngắn gọn. Một vài trường hợp quá ngắn như tiểu sử thiền sư Pháp Thuận .
Thư viện Tài liệu