Tìm kiếm

Tp.HCM Cử hành Lễ Kỷ niệm 50 năm Bồ-tát Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân

Sáng nay 23-5, tại Công viên Tượng đài Bồ-tát Thích Quảng Đức, Q.3, TP.HCM, BTS GHPGVN TP.HCM đã long trọng tổ chức Lễ Kỷ niệm 50 năm Bồ-tát Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân (1963-2013) và tưởng niệm chư Thánh tử đạo.

Thông điệp Phật đản của Tổng thư ký LHQ

Chúng ta kỷ niệm Phật đản năm nay trong lúc cộng đồng quốc tế đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cuối cùng cho Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Phát triển bền vững tại Rio de Janeiro - cơ hội để thiết lập một thế giới công bằng và phát triển bền vững.

Xem tất cả »

Tiểu sử Đại lão HT. Thích Từ Nhơn (1926 - 2013)

Thế rồi, theo duyên tan họp, Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 07 giờ ngày 25 tháng 4 năm 2013, nhằm ngày 16 tháng 3 năm Quý Tỵ tại Việt Nam Quốc Tự, đường 3 tháng 2, phường 12, quận 10, Tp. Hồ Chí Minh. Trụ thể 88 năm, Hạ lạp 68 năm.

Tiểu sử trưởng lão Hòa Thượng Thích Minh Châu (1918 - 2012)

Đúng vào mùa Vu Lan PL. 2556, vào lúc 9h sáng ngày 01 tháng 9 năm 2012 (tức 16/7 âm lịch), Ngài đã nhẹ nhàng xả báo thân tại Phương trượng Thiền Viện Vạn Hạnh. Trụ thế 95 tuổi năm và 64 hạ lạp. Cuộc đời của Hòa thượng là một tấm gương sáng về đức trí và giáo dục cho Tăng Ni nhiều thế hệ. Ngài còn là anh cả Sáng lập viên của Tổ chức giáo dục Thanh thiếu niên Gia đình Phật tử Việt Nam.

Xem tất cả »

Liên kết websiteThống kê truy cập
  • Đang Online: 12
  • Lượt truy cập: 815693
Các bài nghiên cứu

Nghĩ về tinh thần an cư hôm nay

Đăng ngày: 08/06/2012

An cư với ý nghĩa ban đầu là thiết lập một hình thức sinh hoạt cho Tăng đoàn vào mùa mưa, nhưng theo thời gian, an cư càng ngày càng mở rộng ý nghĩa tâm linh và xã hội của nó.

Và tinh thần an cư đã thâm nhập cộng đồng, dần dần vượt khỏi quy ước thời gian (hình thức ba tháng hạ), trở thành một khái niệm sống đạo, một nhu cầu tâm linh phổ biến không chỉ dành riêng cho hàng xuất gia, cho người Phật tử mà cho tất cả mọi người. 

Chúng ta thấy, đời sống vật chất phát triển ngày nay không thực sự khuyến khích con người vươn tới một đời sống tâm linh tốt đẹp. Đây là một hiện thực mà ai cũng nhận ra. Điều đáng nói, thực trạng xã hội đang xuất hiện ngày một nhiều những con người cho rằng bản thân họ được hình thành từ sự tiến hóa của các điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội…, và ngay cả ý thức của họ cũng là sản phẩm và bị điều kiện hóa bởi những thế lực ngoại tại. Thế thì, việc đặt ra thời gian an cư cho sự chuyển hóa thân tâm có ý nghĩa gì không? 

Thế giới vật lý của chúng ta được biểu hiện rất rõ qua hai trạng thái chính, đó là ngày và đêm, động và tĩnh, và các trạng thái này tác động rất nhiều đến tâm lý, tình cảm, sức khoẻ của con người. Tuy nhiên, cứ nhìn cuộc sống bận rộn thường ngày của chúng ta thì thấy ngay một sự mất cân bằng rất lớn: người ta có thể làm việc, ăn chơi suốt ngày đêm, và sự yên tĩnh vốn có cũng theo đó mà mất dần đi…, nhưng điều đáng nói, sự mất cân bằng đó hầu như không có tác động gì nhiều đến đời sống để người ta có thể ý thức và hành động sao cho có ý nghĩa hơn. 

Rõ ràng con người hiện đại không có nhiều thời gian nghỉ ngơi nhằm bù cho những năng lượng đã mất, huống gì là thời gian để suy nghiệm về bản thân. Vì vậy, những vấn đề như: sống mất niềm tin, sống lạc lõng, sống thừa; sống trong đổ vỡ, rách nát, mâu thuẫn ngày càng phổ biến và có khả năng đưa cuộc sống chúng ta rơi vào bế tắc. Có thể nói, những vấn đề của cuộc sống hiện đại càng trở nên nặng nề, ngột ngạt thì xu hướng thoát ly tiêu cực càng gia tăng, và những kinh nghiệm tâm linh càng vắng dần sự khám phá. 

Trong thực trạng đó, an cư - một thông điệp tinh thần đầy từ bi và trí tuệ được Đức Phật và Tăng đoàn của Ngài gửi đến chúng ta từ hơn 25 thế kỷ trước - càng trở nên có ý nghĩa. Người ta thường nói: an thì mới vững, vì thế, an cư là sống an định trong một trú xứ, một không gian nào đó phù hợp với tâm thức và hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân, tập thể hay cả cộng đồng. Có thể hiểu an cư là thời gian mà chúng ta dừng nghỉ để bổ sung cho mình những khoảng trống cần thiết nhằm đưa vào tâm thức những nguồn năng lượng mới của yêu thương và hiểu biết, giúp đời sống giảm dần những đau khổ và tăng thêm những an lạc. 

An cư là dừng nghỉ để suy nghiệm nhiều hơn về bản thân, để chuyển hóa nội tâm và khám phá đời sống một cách mới mẻ, an lạc, từ đó thiết lập một môi trường an ổn, hoà hợp với ý nghĩa cùng chung sống. 

Đối với người xuất gia, an cư không chỉ là trách nhiệm, bổn phận mà còn là con đường để thăng hoa tâm linh, vun bồi trí tuệ, thực hiện lý tưởng cao đẹp, nói như tinh thần thiền học Việt Nam: “Khi đi gió cuốn mây bay, khi đứng núi yên non vững”. An cư là chuyển từ trạng thái vọng, động sang trạng thái tịch tĩnh vì thế an cư không nên hiểu nó như là sợi dây cương kìm hãm tâm thức, cũng không phải thời gian áp chế thân thể, và càng không phải là kết thúc thời gian ấy, mọi người sẽ nhận được một “chứng chỉ” làm căn cứ cho việc tấn phong giáo phẩm. An cư là niềm vui, hạnh phúc, là nhu cầu như hơi thở tự nhiên của người học Phật, đặc biệt là người xuất gia, nên không thể biến nó thành một khái niệm phong trào nặng về hình thức. 

Đối với người Phật tử, mùa an cư không chỉ thể hiện sự quan tâm đến đời sống, điều kiện sinh hoạt của chư Tăng mà còn thể hiện niềm tin, sự kính ngưỡng, mong mỏi những bậc thầy của mình thăng tiến trên con đường tâm linh để xác quyết, giữ vững niềm tin của họ với Tam bảo. Và hơn hết, vượt ra khỏi ý nghĩa đó, người Phật tử áp dụng tinh thần an cư vào chính cuộc sống hàng ngày của mình cho dù họ giữ bất kỳ cương vị nào trong xã hội. Ở nghĩa phổ cập, an cư là dừng mọi việc làm, suy nghĩ có khả năng kéo mình vào con đường vật chất bận rộn, để chữa lành những vết thương do sự ganh đua, mâu thuẫn, vị kỷ, khổ đau… Nói đơn giản, an cư là thời gian cho mỗi người chúng ta cơ hội làm lành mạnh tâm hồn và thể xác, để thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa con người với môi trường sinh thái. An cư là thời gian nuôi dưỡng trái tim, để kinh nghiệm nhiều hơn về những gì đã mất, hay những đau khổ giằng dai còn hiện hữu…, để gọi thầy, gọi mẹ, gọi anh, gọi em… một cách thanh thản nhất, bình yên nhất. 

An cư không phải là thời gian để tuân thủ những điều mà chúng ta cho rằng nó ràng buộc, giáo điều… Đó không phải là ý nghĩa đích thực của an cư. An cư là thời gian để chúng ta tạo ra năng lượng chuyển hóa thân tâm, nên chúng ta đừng miễn cưỡng kiểm soát thân tâm bằng những quy điều mà hãy để trái tim được thực sự tự do sáng tạo, thể hiện cảm xúc, với niềm vui nho nhỏ rằng, ngay bây giờ và ở đây, cơn giận của chúng ta với một người đã chấm dứt, mặc cảm tự ti đã không còn, tham lam ganh ghét đã lùi xa…, và để tất cả mọi an lành tràn vào trong tâm thức. Cuộc sống đáng yêu và mầu nhiệm biết bao khi mang đến rất nhiều ý nghĩa để chúng ta kinh nghiệm, và hiểu được rằng không có gì biệt lập với chúng ta. 

An cư cho chúng ta suy nghiệm nhiều hơn những vấn đề nổi lên trong tâm thức, từ đó, chúng ta khám phá cuộc sống chung quanh bằng con mắt trẻ thơ, hồn nhiên, bình yên và mới mẻ. Chúng ta hãy khám phá người thân chung quanh mình không phải bằng con mắt nghi kỵ, thành kiến, để rồi con dâu hãy nhìn mẹ chồng, chị nhìn em, vợ nhìn chồng, người sống chung trong một khu phố nhìn những người hàng xóm của mình bằng niềm tin yêu và sự chia sẻ, chính lúc ấy môi trường sống của chúng ta mới thực sự trở thành môi trường sống an vui. An cư cũng là lúc người giàu nghĩ nhiều hơn về cuộc sống của người nghèo, người được học hành nghĩ nhiều hơn về những người kém may mắn hơn mình…, và đó là cơ hội để chia sẻ những đau buồn và hạnh phúc, để cuộc sống nhiều thêm những lời cảm ơn và sự tương kính… 

Trong thời buổi kinh tế phát triển mà vật chất trở thành thước đo cho nhiều giá trị, tinh thần an cư bị lấn lướt và khuyến khích bởi nhiều động cơ có tính chất thế tục tầm thường, người Phật tử phải nỗ lực tự mình đứng lên tiên phong cho con đường thực hiện lý tưởng tâm linh cao đẹp, trải nghiệm và kinh nghiệm đời sống tâm linh, vuợt qua mọi lý luận xã hội dung tục của bất kỳ sự “uyên bác” nào để thực sự sống đạo, chấm dứt những nghi ngờ, đố kỵ, chia rẽ của tư tưởng tông phái và nếp thực hành, mở rộng tâm hồn đón nhận tất cả những bao la bát ngát của cuộc sống. An cư là giây phút dừng tâm, nhận ra những gì đã vô tình đi qua, những gì đã bị bỏ quên, những gì được mất, những gì là bi kịch, tuyệt vọng để trở về với trạng thái tinh thần bình thản và an trú trong sự trong veo của tâm thức. 

Có thể nói, an cư không bao giờ là nô lệ của hình thức mà chính nó phải là con đường thực nghiệm tâm linh, con đường khám phá hiện hữu một cách mới mẻ và sáng tạo. An cư là bỏ đi sự nhàm chán đơn điệu thường ngày để nhìn nhận những mối tương quan trong cuộc sống chúng ta một cách sâu sắc hơn, tế nhị hơn. 

Vậy, tinh thần an cư là cơ hội để mỗi cá nhân tự sửa mình, và an cư không chỉ bó hẹp trong ba tháng mà cần phải thường trực trong suốt cuộc đời của mỗi con người, mỗi tổ chức, đoàn thể. Mỗi ngày, mỗi tháng hoặc mỗi định kỳ ba tháng mọi người cần dành thời gian để an cư với tinh thần như thế, để cuộc sống được cân bằng và hướng thượng. An cư là sống với chính mình, nhắc nhở sự hiện hữu của mình trong vô vàn mối liên hệ tự nhiên và xã hội. Với ý nghĩa đó, có thể nói: “Tôi an cư vậy tôi tồn tại”.

Thích Thanh Thắng

Theo giacngo Online

CÁC BẢN TIN LIÊN QUAN KHÁC

Thư viện Tài liệu
  • Ý nghĩa Phật ĐảnTa thấy rõ ràng là ta tìm thấy Bụt ngay trong tự tâm của mình, mà ta cũng tìm thấy Bụt ở trong tăng thân của mình. Tăng thân của mình là gì? Tăng thân là một đoàn thể đang thực tập để có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tăng thân của ta có thể không hoàn hảo, nó còn có lên xuống, còn khổ đau, còn hờn giận…Nhưng tất cả mọi người trong tăng thân đều có ý chí muốn tu học.
  • Quan điểm của Phật giáo trước các vấn đề hiện đại“Quan điểm của Phật giáo trước các vấn đề hiện đại” là một tuyển tập các bài viết của các giáo sư Phật học và các nhà khoa học nổi tiếng thế giới về các vấn đề thời đại, dưới cái nhìn Phật giáo.
  • Thế Nào Gọi Là Nguyên Thủy Phật GiáoThời kỳ Phật học Nguyên thủy, là chỉ cho những học thuyết được truyền thừa tính từ thời gian đức Phật thành đạo và được truyền thừa 3,4 thế hệ cho đến sau khi Ngài nhập diệt, là thời gian nội bộ Phật giáo vẫn chưa phân hóa, tư tưởng còn thống nhất. Sự phân kỳ của Phật học sử, chúng ta tính từ Phật học xuất hiện vào những thế kỷ trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ XI sau công nguyên, tổng cộng có chừng 1500 năm, chia làm 6 giai đoạn: 1. Phật học Nguyên thủy; 2.Phật học Bộ phái; 3. Phật học Đại thừa của thời kỳ đầu; 4. Phật học Tiểu thừa; 5. Phật học Đại thừa của thời kỳ giữa; 6. Phật học Đại thừa của thời kỳ cuối.
  • Hai sự kiện người "hóa hổ" xảy ra trong triều LýTrong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên viết về vua Lý Nhân Tông như sau: “Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, nước được thái bình, là vua giỏi của triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều luỵ cho đức tốt”. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông “Xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân. Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám”
  • Tinh Yếu Kinh Quán Niệm Hơi ThởNgày tôi khám phá ra kinh Quán Niệm Hơi Thở tôi rất hạnh phúc, tôi xem như mình đã tìm ra một kho báu, tôi có cảm tưởng tôi là người hạnh phúc nhất trên đời. Vì vậy tôi đã từng giảng dạy, từng trình bày và từng hướng dẫn cho rất nhiều người tu tập. Trong khi hướng dẫn người khác tu tập tôi luôn luôn có hạnh phúc và những người được nghe và tu tập theo cũng có hạnh phúc.
Thư viện Tài liệu